THÁNH THỂ SINH ĐỘNG

0
52
  1. Biểu tượng và thực tại

Trong câu nói “Này là Mình Ta”, thực tại nối kết với biểu tượng và xâm chiếm luôn biểu tượng. Bánh là biểu tượng cho Thân Mình Đức Kitô được thí ban làm của ăn, đã nhường chỗ cho thực tại của chính Thân Mình ấy. Thay vì biểu tượng loại bỏ sự hiện diện của thực tại (như người ta vẫn quen nghĩ trong trường hợp các kiểu nói ám dụ), ở đây biểu tượng đã ôm lấy cả thực tại: thực tại được tượng trưng đã trở thành hiện diện đến nỗi làm biến mất luôn cả thực tại biểu tượng, chỉ cho nó để lại cái vẻ bên ngoài. Bánh tự xóa mình đi và biểu tượng đổi thành thực tại.

Các biểu tượng gặp lại mình trong toàn thể nhiệm cục bí tích. Thật vậy, bí tích là dấu chỉ khả giác của ân sủng. Bí tích vừa ban ân sủng vừa tượng trưng cho ân sủng bằng một cử chỉ hữu hình. Như việc đổ nước trong bí tích Rửa tội là để diễn tả việc tẩy rửa. Thánh Phaolô thì coi việc thanh tẩy bằng cách dìm xuống nước như các kitô hữu sơ khởi quen làm, là bằng chứng cho thấy kẻ thụ tẩy đã được mai táng với Đức Kitô để cùng sống lại với Ngài (Rm 6,3-10). Sự kiện được dìm hẳn vào trong nước, hình ảnh chỉ sự chết, gợi ý cho thấy rằng trong phép Rửa, con người chết cho tội để tái sinh ngay vào cuộc sống mới. Hành động khả giác là biểu tượng vật chất của một hành động thiêng liêng.

Nét đặc trưng trong lãnh vực bí tích là biểu tượng không dừng lại ở tình trạng biểu tượng một cách đơn thuần, để chỉ một thực tại ở xa hoặc vắng mặt. Ở đây biểu tượng vừa là biểu tượng lại vừa kéo theo cả thực tại nó biểu thị. Phép Rửa thật sự tẩy sạch linh hồn khỏi mọi vết nhơ; nó chôn lấy một quá khứ nô lệ cho tội lỗi và khiến ta được sinh ra trong sự sống Đức Kitô. Nó thực hiện cách vô hình điều nó diễn tả bằng biểu tượng. Thực tại được gây ra nhờ biểu tượng.

Như thế, việc Thân Mình Đức Kitô trở nên thật sự hiện diện dưới dấu chỉ khả giác, là điều phù hợp với nhiệm cục bí tích. Bảo rằng những lời Đức Kitô “Này là Mình Ta” phải được hiểu theo nghĩa tượng trưng, và từ đó kết luận rằng trong Thánh Thể không hề có sự hiện diện của Thân Mình Đức Kitô, tức là đã đi ngược với nguyên lý chủ yếu của các bí tích: biểu tượng có chức năng làm cho điều nó biểu thị trở thành thực tại tại chỗ. Khác với Luther, các nhà cải cách Tin Lành buổi đầu khi chối bỏ sự hiện diện thực sự đã phải cố tìm cách để chỉ nhận cho mô thức Thánh Thể một ý nghĩa tượng trưng bằng cách chú giải mô thức ấy thành “Cái này biểu thị Thân Mình Ta”. Uốn nắn lại như vậy không phải là sai nhưng đã làm cho mô thức thiếu mất điểm cốt yếu: người ta có thể nói Thân Mình Đức Kitô được biểu thị nhờ dấu chỉ khả giác của bánh, nhưng phải thêm rằng Thân Mình ấy thật sự hiện diện ở đó. Nếu không thì chỉ là một biểu tượng rỗng tuếch, ngược với bản tính của biểu tượng bí tích.

Tuy nhiên, trong Thánh Thể còn có điểm rất độc đáo; ở đấy biểu tượng và thực tại nối kết với nhau theo một cách đặc biệt không thấy có nơi bất cứ bí tích nào khác. Thật vậy, ở đây thực tại của Thân Mình Đức Kitô đến thay thế cho thực tại của Bánh; biểu tượng bị giảm trừ hẳn chỉ còn lại cái vẻ bên ngoài thôi. Trong phép Rửa, dấu chỉ khả giác là việc đổ nước vẫn giữ nguyên thực tại của nó, còn trong Thánh Lễ, bánh không còn là bánh nữa. Đây là trường hợp mà tính hiện thực bí tích được đẩy đến tận cùng: Thực tại thắng hẳn biểu tượng. Đức Giêsu đã chẳng nhắc gì tới biểu tượng; Ngài không nói: “Cái này là dấu chỉ Thân Mình Ta”; Ngài quả quyết thẳng sự hiện diện của Thân Mình Ngài, mà không hề đả động gì đến cái biểu tượng mà ai cũng thấy Ngài đang cầm trong tay.

Tại sao lại có trường hợp ngoại lệ, thực tại chiếm chỗ của biểu tượng như thế? Tại sao sự hiện diện của Thân Mình Đức Kitô lại thay thế được sự hiện diện của bánh? Khác với các bí tích khác, trong Thánh Thể, không phải chỉ có một hiệu quả thiêng liêng của việc cứu chuộc, được ban phát nhờ một dấu hữu hình; nhưng ở đây, chính hành vi cứu chuộc được làm mới lại: hy tế Canvê, là nguồn mạch ân sủng, được lặp lại một cách bí tích, và cùng với hy tế ấy có sự hiện diện của Đức Kitô chịu sát tế. Một khi đã có sự hiện diện ấy của Đức Kitô trong thế giới vật thể của chúng ta, mọi sự hiện diện vật thể khác phải tự xóa mình hết. Nhờ sự hiện diện của Ngài, Đức Kitô đến xâm nhập cách mầu nhiệm trọn khoảng không gian mà bánh và rượu đang chiếm chỗ.

Khi nhường chỗ cho sự hiện diện của Đức Kitô, biểu tượng của bánh đạt tới đích điểm cao quí nhất theo định mệnh của nó. Đó là thụ tạo nhường chỗ cho Đấng Tạo Hóa của mình. Đấng Tạo Hóa đã khiêm nhường đến chiếm lấy cái không gian vật chất nhỏ hèn của một vật thể, và bánh được đổi thành thực tại của Đấng đã làm nên nó.

Đấy là một tuyệt đỉnh của nền biểu tượng (sym- bolisme), là thành tựu của nguyện vọng sâu kín nhất giấu ẩn trong biểu tượng bí tích. Thật vậy, nguyện vọng của biểu tượng là trình bày cách sít sao nhất cái thực tại trổi vượt mà nó đang biểu thị; và vì bí tích là một dấu chỉ nhằm gây ra được điều nó biểu thị, nên nguyện vọng của biểu tượng bí tích là gây ra được thực tại nó tượng trưng. Trong Thánh Thể, sự trình bày được đẩy xa đến chỗ trở thành sự hiện diện, và thực tại được tượng trưng ở đây lại hiện diện đến nỗi khiến cho biểu tượng bị giảm trừ hẳn chỉ còn cái vẻ bề ngoài thôi. Trong giới hạn của nó, biểu tượng hết sức tự xóa mình đi trước thực tại nó tượng trưng vì tất cả vai trò của nó là trình bày thực tại và kêu gọi thực tại ấy đến.

Chính trong Thánh Lễ mà toàn thể nền biểu tượng của thế giới nhận được một sự tươi nở tuyệt vời, và chính Thánh Lễ vén mở cho thấy ý nghĩa cuối cùng của tất cả mọi dấu chỉ và biểu tượng của vũ trụ chúng ta. Bánh và rượu là những dấu chỉ vật chất nhỏ hèn biểu tượng Mình và Máu Đức Kitô. Trên thế giới còn có nhiều dấu chỉ khác; có biết bao biểu tượng của nghệ thuật và thi ca thích nêu ra, và có những biểu tượng được đạo thánh dùng như khí cụ của ân sủng. Theo một nghia nào đó, có thể nói rằng mọi cái trong vũ trụ đều là dấu chỉ: hoa và quả, ngày và đêm; trời, mây hay tinh tú, núi non và đồng bằng, sông và biển, thành phố và hoang mạc. Cũng như bánh và rượu, mọi biểu tượng ấy đều có được ý nghĩa cuối cùng của chúng trong Đức Kitô; chúng biểu thị hoặc phác họa những khía cạnh của vũ trụ hoặc của nhân loại cần được Đức Kitô làm cho sống.

Với Thánh Lễ, thế giới vật chất mặc lấy ý nghĩa cuối cùng của nó như là một thế giới có định mệnh biểu thị Đức Kitô và là một thế giới có định mệnh đón nhận thực tại Đức Kitô làm nền tảng cho thực tại riêng của nó. Vũ trụ trở nên biểu tượng của Ngôi Lời Nhập Thể, cái biểu tượng đang hướng tới chỗ nhận lấy thực tại Đức Kitô làm thực tại sâu xa của nó. Thánh Lễ là công cuộc phục hồi mọi sự trong Đức Kitô, Đấng Kitô mà muôn vật đều phải phác họa lại hình ảnh Ngài và phải hút lấy nơi Ngài nhựa sống cần thiết nhất để được sống.

0 BÌNH LUẬN