CHÚA NHẬT LỄ KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

0
32

Khi nói đến truyền giáo nhiều người cho rằng: chỉ có các tu sĩ, linh mục và những người được tuyển chọn mới ra đi truyền giáo. Thiết nghĩ điều đó là một lối hiểu chưa đúng, vì truyền giáo không phải là những người đi ra ngoài nước, hay đến một nơi nào xa xôi hẻo lánh để nói về Chúa cho những người chưa biết Ngài. Đối với Giáo Hội, có nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhưng mỗi cá nhân Ki-tô hữu cùng chung một sứ mệnh là loan báo về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa cho tất cả mọi thành phần chưa nhận biết Chúa. Và trong ngày lễ truyền giáo hôm nay, chúng ta cùng nhìn lại hành trình của Giáo Hội trong cánh đồng truyền giáo qua trang Tin Mừng Mát-thêu đoạn 28,16-20.

Trước hết, mở đầu trang Tin Mừng khi Đức Giê-su đến gần, nói với các môn đệ: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”(Mt 28,18-20). Quả thật làm môn đệ của Đức Ki-tô và đi nói về Ngài nghe có vẻ dễ, nhưng nó không hề đơn giản. Bởi lẽ chúng ta không thể dùng quyền lực để áp chế người khác, không phải là chỉ trình bày, cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng, mà là kiến tạo một quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Không những thế, kiểu mẫu cho việc loan báo Tin Mừng không chỉ là nói suông hay có những thái độ giảng dạy, mà còn là thái độ sống thực khi đến với muôn dân. Một người sống chỉ nói mà không làm đó là người nói dối và khó thuyết phục, trái lại một người làm đi đôi với việc họ rao giảng chắc chắn dễ thuyết phục người khác.

Thứ đến, một thế giới tục hóa, niềm vui mang đến cho người khác không chưa đủ, nhưng niềm vui ấy còn thể hiện qua chính cách sống, qua hành động cụ thể như việc giúp đỡ (cơm, áo, gạo…), qua cung cách làm chứng tá cụ thể sống hòa đồng, sống đùm bọc (lá lành đùm lá rách, hay lá rách đùm lá nát). Và trong thực tế không ít nhà truyền giáo thất bại vì những lời họ rao giảng chỉ nói suông mà không làm, thiếu tình thương, thiếu sự nâng đỡ chia sẻ tinh thần cũng như vật chất. Hơn thế, Đức Ki-tô đã yêu thương với tình yêu cao cả vô biên qua chính cách sống của Ngài, qua những việc Ngài làm phép lạ hóa bánh để nuôi dân chúng, vì thế con người không có cách đáp trả nào hơn là chính tình yêu của mình đối với Thiên Chúa. Vì chỉ có tình yêu mới đáp trả tình yêu, cho nên chúng ta chỉ nói là yêu Chúa thôi chưa đủ, nhưng còn phải yêu tha nhân như chính mình qua chính đời sống hy sinh phục vụ tận tụy hằng ngày.

Kế đó, việc thực hành đức mến không hề dễ dàng, chẳng hạn như trước bao nhiêu nhu cầu của tha nhân (những người đói nghèo, bệnh tật), tôi nên dành hết năng lực để giúp họ, hay là cần dành thời gian để cầu nguyện nữa? Tôi và bạn được phái đi rao giảng Tin Mừng ở một xứ nghèo, chúng ta phải dành ưu tiên cho việc loan truyền Tin Mừng hay là thăng tiến nhân phẩm (lo cơm, gạo, nước uống, nhà cửa, trường học cho nhân dân). Thế nên, việc truyền giáo như lời thánh Gioan đã nhắn nhủ rằng “Đừng yêu thương nơi đầu môi chóp lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Ga 3,18)

Ngoài ra, trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng dạy: “Nhờ Bí tích Rửa Tội của mình, tất cả thành viên của Dân Thiên Chúa trở thành những môn đệ truyền giáo (x.Mt 28:19). Mọi người đã được rửa tội, bất kể ở vị trí nào trong Giáo Hội đều là những tác nhân của công cuộc Phúc Âm Hóa, và thật là thiếu sót khi hình dung một kế hoạch Phúc Âm Hóa chỉ được các chuyên viên thực hiện trên bình diện lý thuyết, trong khi các Ki-tô hữu còn lại chỉ là những người tiếp nhận thụ động. Vì thế, mỗi người Ki-tô hữu chúng ta có bổn phận dấn thân cách tích cực vào công cuộc loan báo Tin Mừng. Mỗi người Ki-tô hữu là một nhà truyền giáo theo mức độ mà người ấy đã gặp gỡ tình yêu của Thiên Chúa ở nơi Đức Giê-su Ki-tô;  chúng ta không còn nói rằng chúng ta là “những môn đệ” và “những nhà truyền giáo”, nhưng đúng hơn, chúng ta mãi mãi là “những môn đệ truyền giáo” (số 120).

Sau cùng, để có được tình yêu mãnh liệt cho việc loan báo Tin Mừng, chúng ta luôn kết hợp giữa cầu nguyện, đào tạo nhân sự cũng như bằng chính những việc làm cụ thể. Qua đó chúng ta mới có thể nói và đem tình yêu của Thiên Chúa đến cho người khác trong một thế giới tục hóa và vô luân, hầu mai ngày hy vọng mùa lúa mới được bội thu. Amen.

Giêrônimô Phạm Văn Tiền

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN NĂM A

LỜI CHÚA:  22,15-21

Khi ấy, các người biệt phái họp nhau lại bàn mưu để bắt bẻ Chúa Giêsu trong lời nói. Các ông sai môn đồ của các ông đi với những người thuộc phái Hêrôđê đến nói với Người rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người ngay chính, căn cứ theo sự thật mà dạy bảo đường lối Thiên Chúa. Thầy chẳng cần để ý đến ai, vì Thầy không tây vị người nào. Vậy xin Thầy nói cho chúng tôi biết Thầy nghĩ thế nào: Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?” Chúa Giêsu thừa hiểu ác ý của họ, nên nói: “Bọn người giả hình, các ngươi gài bẫy Ta làm gì? Hãy đưa Ta xem đồng tiền nộp thuế”. Họ đưa cho Người một đồng bạc. Và Chúa Giêsu hỏi họ: “Hình tượng và danh hiệu này là của ai?” Họ thưa rằng: “Của Cêsarê”. Bấy giờ Người bảo họ rằng: “Vậy, cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.

SUY NIỆM

Chuyện xảy ra trong thời Chiến quốc ở Trung Quốc: Vua nước Nguỵ muốn cầu hoà với vua Kinh nước Sở nên đã dâng cho vua này một cô gái tuyệt đẹp. Vua Kinh yêu nàng ta mê mệt đến nỗi chẳng còn thiết gì đánh nhau. Vua đem cô gái về nước và lập làm vợ thứ.

Hoàng hậu nước Sở là Thịnh Tụ thấy vua thương cô gái cũng đem lòng quí mến chiều chuộng. Muốn mặc gì, đi chơi đâu, nhất nhất hoàng hậu cũng đồng ý. Thấy thế vua Kinh mừng lắm, có lần khen: “Hoàng hậu thấy ta yêu quí vợ mới mà cũng đem lòng thương mến như thế thì có gì khác nào con thảo biết thờ kính cha mẹ, tôi trung biết làm vui chủ mình”.

Hoàng hậu thấy vua không nghi ngờ gì nên một dịp kia mới bảo cô gái đẹp: “Đức vua thương yêu ngươi lắm, chỉ ghét có cái mũi của ngươi. Giá mà từ nay, mỗi lần trông thấy đức vua, ngươi che mũi lại thì chắc sẽ được yêu thương hơn nhiều”.

Nghe lời khuyên nên hễ vừa thấy đức vua, cô gái nọ liền che mũi lại. Thấy lạ vua Kinh mới dò thăm với hoàng hậu. Trước thì hoàng hậu trả lời “không biết” đến khi thấy vua cứ gặng hỏi, bà mới nói; “Thiếp nghe đâu cô ấy nói thân thể đức vua có mùi hôi khó ngửi, nên cứ phải che mũi thế đấy”.

Nghe vậy nhà vua nổi giận quát lên: “Thế thì xẻo ngay cái mũi của nó cho ta”.

Thật quá nham hiểm, đúng là “mật ngọt chết ruồi” thật giống với nhóm biệt phái và nhóm người theo Hêrôđê trong Lời Chúa hôm nay. Họ muốn mưu hại Đức Giê su, nhưng trước tiên họ dùng mật ngọt dẫn dụ Ngài “chúng tôi biết Thầy là người ngay chính, Thầy cứ căn cứ theo sự thật mà dạy bảo đường lối Thiên Chúa, Thầy không thiên tư tây vị ai”. Sau đó, họ gài bẫy Đức Giêsu “Thưa Thầy, có nên nộp thuế cho Cêsarê không? Một câu hỏi để dẫn dụ Đức Giêsu vào cái bẫy lưỡng đao luận hết sức thâm độc. Nếu trả lời “có”, lập tức nhóm biệt phái ghép Đức Giêsu vào hạng thu thuế, bi coi là Do Thái gian, phản quốc và bị dân Do thái ghét đắng ghét cay. Còn nếu Đức Giêsu nói “không”, thì phe Hêrôđê sẽ tố cáo Ngài phản loạn chống lại đế quốc, đó là tội tử. Đang khi họ dương bộ mặt nham hiểm tự đắc, Đức Giêsu nghiêm nghị nhìn họ “Bọn người giả hình, các ngươi gài bẫy Ta làm gì? Hãy đưa Ta xem đồng tiền nộp thuế”. Đức Giêsu cầm đồng tiền, hỏi một câu, khiến họ phải tự mình tiễn Ngài ra khỏi bẫy “Hình tượng và danh hiệu này là của ai?” Họ thưa rằng: “Của Cêsarê”. Thế là Ngài nhẹ nhàng bước ra khỏi bẫy: “Vậy, cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê” và nhắc nhở họ: ” cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.

Qua hình ảnh Cêsarê trên đồng tiền, Đức Giêsu muốn nhắc những kẻ gài bẫy Người và  mỗi người chúng ta rằng: cũng như đồng tiền mang hình ảnh của Cêsarê thì thuộc về Cêsarê, vì thế phải trả lại cho ông; còn linh hồn con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa nên linh hồn phải được trả về cho Thiên Chúa. Cho nên, con người sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về tất cả những việc làm trái với phẩm giá cao quý của mình, những hành vi trái lương tâm, làm hoen ố, làm phai mờ hình ảnh Thiên Chúa trong linh hồn mình. Về điều này, Thánh Faustina cảm nghiệm rất rõ, ngài kể lại thị kiến của mình, trong Nhật Ký Lòng Chúa Thương Xót: “Một ngày kia, tội được Chúa gọi đến tòa phán xét. Tôi đứng một mình trước mặt Chúa Giêsu chịu nạn. Sau một lát, vết còn lại năm dấu đanh. Lập tức tôi được thấy tình trạng linh hồn tôi như Chúa thấy. Tôi thấy rõ từng điều xúc phạm đến Chúa. Tôi không ngờ rằng, một sơ sót dù nhỏ mọn nhất của tôi cũng phải đền trả. Ôi giây phút đáng sợ. Ai có thể diễn tả nổi khi đứng trước mặt Ba Ngôi cực thánh? “

Mong sao, Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người chúng ta ý thức phẩm giá của mình và sống làm sao để người khác nhìn thấy hình ảnh của Chúa nơi chúng ta. Nhờ đó, chúng ta trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa giữa trần gian và có thể trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa, trước tòa phán xét sau này. Amen.

Tôma Aquino Nguyễn Thái San

0 BÌNH LUẬN